TS Cấn Văn Lực: Việt Nam còn "bảo bối" mà nhiều tổ chức quốc tế chưa nhìn ra

Dù các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay chỉ quanh mức hơn 7%, TS Cấn Văn Lực cho rằng những con số này vẫn chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng cũng như các “dư địa tăng trưởng” đặc biệt của Việt Nam.

Tại hội thảo “Thị trường chứng khoán 2026 – Chu kỳ tăng trưởng mới – Cơ hội từ phân hóa và chất lượng tăng trưởng” do Chứng khoán Nhất Việt (VFS) tổ chức mới đây, TS Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng và Giám đốc Viện Đào tạo, Nghiên cứu BIDV cho rằng bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2026 dù còn nhiều biến số từ bên ngoài, song cơ hội hiện lớn hơn đáng kể so với thách thức.

Theo ông Lực, các tổ chức quốc tế hiện vẫn chưa nhìn thấy hết tiềm năng cũng như dư địa tăng trưởng của Việt Nam. Ông dẫn chứng, Ngân hàng Thế giới (WB) hiện dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay khoảng 7,6%, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng dự báo tăng trưởng quanh mức hơn 7%.

“ Tôi không tin hoàn toàn những con số này, bởi các tổ chức quốc tế hiện vẫn chưa nhìn thấy hết tiềm năng và "bảo bối" của Việt Nam" , ông nói.

Theo chuyên gia, động lực tăng trưởng của Việt Nam hiện nay không chỉ đến từ các yếu tố truyền thống mà còn đến từ quá trình cải cách thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn và giải phóng nguồn lực cho nền kinh tế.

Một trong những dư địa lớn nhất nằm ở việc tháo gỡ các dự án tồn đọng trong lĩnh vực đất đai và bất động sản. Theo ông Lực, hiện toàn nền kinh tế còn khoảng 3.328 dự án tồn đọng lâu nay trong lĩnh vực đất đai, bất động sản với quy mô vốn đầu tư lên tới 3,35 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 200.000 ha đất. Nếu khơi thông và giải tỏa được khoảng 20% số lượng vốn này nền kinh tế sẽ có thêm dư địa tăng trưởng GDP.

Chính từ những con số định lượng thực tế này, TS Cấn Văn Lực cho biết tự tin GDP đạt mức 9 - 9,2% trong kịch bản cơ sở, vẫn theo sát mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt mức 10%/năm nhờ chuyển dịch mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).

TS Cấn Văn Lực cho rằng có 5 yếu tố then chốt quyết định khả năng cải thiện TFP gồm công nghệ và chuyển đổi số, giáo dục và đào tạo, hiệu quả thị trường, cơ sở hạ tầng và thể chế. Trong đó, công nghệ là điều kiện cần nhưng phải đi cùng nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng đồng bộ và cải cách thể chế đủ mạnh để tháo gỡ các “điểm nghẽn” của nền kinh tế.

Bên cạnh việc tháo gỡ các dự án tồn đọng, đầu tư công tiếp tục được xem là động lực tăng trưởng then chốt. Hết 4 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư công đạt khoảng 187.000 tỷ đồng, tăng hơn 10% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, theo ông Lực, điều quan trọng hơn là kế hoạch giải ngân đầu tư công năm nay lên tới khoảng 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 31% so với năm ngoái.

Nếu thực hiện được mục tiêu giải ngân 100% theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, kinh tế Việt Nam có thể được cộng thêm khoảng 1,8 điểm % tăng trưởng. Điều này đồng nghĩa tăng trưởng không chỉ dừng ở mức 7% mà hoàn toàn có thể tiến lên khoảng 9%.

“Tôi cho rằng các định chế quốc tế có thể chưa tính hết dư địa này. Thông thường họ vẫn đánh giá Việt Nam theo xu hướng tăng trưởng thông thường, trong khi chúng ta còn động lực rất lớn từ việc đẩy mạnh đầu tư công ”, ông nhận định.

Ngoài đầu tư công và tháo gỡ dự án vướng mắc, TS Cấn Văn Lực cho rằng cải cách thể chế sẽ là động lực quan trọng tiếp theo. Hiện nay, mục tiêu đặt ra là cắt giảm 30% điều kiện kinh doanh không cần thiết, giảm 50% thời gian xử lý hồ sơ và giảm 50% chi phí tuân thủ.

Theo tính toán, các cải cách này có thể giúp Việt Nam tăng thêm khoảng 0,5-0,7 điểm % tăng trưởng kinh tế mỗi năm. Trong khi đó, chuyển đổi số nếu được triển khai hiệu quả có thể đóng góp thêm khoảng 1-1,2 điểm % tăng trưởng.

“ Tổng hợp tất cả các động lực tăng trưởng mới, mỗi năm nền kinh tế Việt Nam có thể được bổ sung thêm khoảng 3-3,5 điểm % tăng trưởng. Tức là từ mức 6% lên 9% là có cơ sở, chứ không phải kỳ vọng viển vông” , ông nói.

Liên quan đến bối cảnh vĩ mô năm 2026, TS Cấn Văn Lực dự báo lạm phát Việt Nam sẽ dao động khoảng 4,2-4,7%. Trong khi đó, lãi suất thế giới có xu hướng giảm chậm do lạm phát toàn cầu vẫn neo cao, khiến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam nhiều khả năng phải duy trì ổn định.

Để hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng, Chính phủ hiện tập trung triển khai “bộ tứ trụ cột” cải cách gồm đột phá khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật và phát triển kinh tế tư nhân. Đồng thời, Việt Nam cũng đang thúc đẩy mạnh kinh tế số với mục tiêu đóng góp 30% GDP vào năm 2030, song song với bảo đảm an ninh năng lượng cho nền kinh tế.

Về triển vọng thị trường, ông Nguyễn Minh Hoàng - Giám đốc Phân tích Chứng khoán VFS đánh giá thị trường trong thời gian tới tiếp tục được hỗ trợ bởi lộ trình triển khai các chính sách vĩ mô, trong đó mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, tương đương khoảng 2,76 triệu tỷ đồng, sẽ đóng vai trò là động lực quan trọng nhất. Dòng vốn này dự kiến được ưu tiên phân bổ vào các tập đoàn đầu tàu, lĩnh vực sản xuất và các dự án hạ tầng chiến lược nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, kế hoạch giải ngân đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng cùng kỳ vọng thu hút khoảng 5-6 tỷ USD từ lộ trình nâng hạng thị trường được xem là các yếu tố hỗ trợ quan trọng, góp phần thúc đẩy VN-Index tăng trưởng theo hướng bền vững trong thời gian tới.